Dự báo NFP tháng 11: Góc nhìn từ các số liệu sẵn có, khả năng cao NFP vượt 500 nghìn việc làm 13:48 03/12/2021

Dự báo NFP tháng 11: Góc nhìn từ các số liệu sẵn có, khả năng cao NFP vượt 500 nghìn việc làm

Tóm tắt

  • Thị trường nhìn chung dự báo nền kinh tế Mỹ tạo 550 nghìn việc làm trong tháng 11. Tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4,5%.
  • Nhu cầu sử dụng lao động vẫn ở mức cao, các chỉ số về lao động đều khả quan.
  • Biến thể Omicron, các tuyên bố của Fed có thể chi phối tâm lí nhà đầu tư.
  • USD và lợi suất sẽ tăng nếu NFP mạnh.

Phân tích

Nền kinh tế lao động của Hoa Kỳ có thể đã chuyển hướng. Tăng trưởng kinh tế trong quý IV đã hồi phục, người tiêu dùng đang chi tiêu bất chấp lạm phát trong khi các nhà tuyển dụng đã lạc quan với tình hình lao động.

Tối nay, báo cáo việc làm Mỹ dự kiến được công bố khá tích cực. NFP tháng 11 có thể xác nhận có tới 550.000 nhân viên mới vào tháng 11 sau mức tăng 531.000 hồi tháng 10. Tỷ lệ thất nghiệp dự kiến sẽ giảm xuống 4,5% từ mức 4,6%. Tỷ lệ thiếu việc làm được dự đoán sẽ tăng lên 8,4% từ mức 8,3% của tháng 10. Thu nhập trung bình hàng giờ sẽ tăng 0,4% hàng tháng và 5% hàng năm.

Tỷ lệ thất nghiệp (U-3)

Các chỉ số thị trường lao động

Từ tháng 5 đến tháng 10 năm nay, NFP tăng trung bình 646.000 việc làm mỗi tháng. Nền kinh tế Mỹ đã có thêm 3,9 triệu việc làm trong giai đoạn đó. Đây là giai đoạn cực kì tích cực của thị trường lao động sau khi nước này đóng cửa lần đầu vào tháng 5/2020.

Các thông tin thêm về thị trường lao động cũng rất tích cực.

Tỷ lệ thất nghiệp (U-3) đã giảm từ 5,8% xuống 4,6%. Tỷ lệ thiếu việc làm (U-6) đã giảm từ 10,2% xuống 8,3%. Thu nhập trung bình theo giờ (hàng năm) đã tăng 2,5 lần, từ 1,9% vào tháng 5 lên 4,9% vào tháng 10. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động không đổi là 61,6%. Chỉ Số giờ lao động trung bình hàng tuần đã giảm từ 34,8 xuống 34,7.

Số liệu việc làm tư nhân từ ADP cũng khá tích cực, với 534.000 việc làm tháng 11. Trong 7 tháng qua, mức tăng trung bình là 598.000.

Khảo sát Cung cấp Việc làm và Doanh thu Lao động (JOLTS) đã ghi nhận trung bình 10,1 triệu vị trí chưa được lấp đầy mỗi tháng từ tháng 4 đến tháng 9. Mức cao kỉ lúc 1 tháng trước đó là 7,6 triệu vào tháng 1/2019.

Số đơn xin thất nghiệp lần đầu giảm xuống còn 199.000 trong tuần kết thúc vào ngày 19/11. Đây là mức thấp kỉ lục trong hơn 50 năm, kể từ tháng 1/1969. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp trung bình 4 tuần là 252.250, thấp nhất kể từ ngày 13/3/2020.

Chỉ số Nhà quản lý Mua hàng (PMI) cho lĩnh vực sản xuất của Viện Quản lý Cung ứng (ISM) đã tăng lên 53,3 vào tháng 11. Con số này tốt hơn so với dự báo 51,1, tăng từ ngưỡng 52 vào tháng 10 – chạm mức cao nhất kể từ tháng 4. Chỉ số PMI việc làm dịch vụ sẽ được báo cáo vào thứ Sáu và dự kiến sẽ tăng lên 52,2 vào tháng 11 từ mức 51,6 của tháng 10.

Các công ty Mỹ đã đã liên tục lấp đầy những vị trí việc làm bị trống do ảnh hưởng của đại dịch năm ngoái. Sự sụt giảm trong việc tuyển dụng vào tháng 8 và tháng 9 đã gây ra rất nhiều sự lo lắng, tuy nhiên tình hình cải thiện rõ rệt sau đó. Tình hình thất nghiệp đang tiến gần đến mức toàn dụng của những tháng trước khi đại dịch bùng phát.

Các nhà tuyển dụng vẫn lạc quan rằng cần nhiều nhân viên hơn, tổng số JOLTS cao hơn 2 triệu so với kỷ lục trước đó và mang tính ủng hộ việc thuê lại nhân công, tăng lương thưởng.

Thị trường lao động Hoa Kỳ đang hoạt động đầy đủ và trừ khi các hạn chế mới được thực hiện, sẽ sớm lấy lại mức việc làm trước đại dịch.

Niềm tin của Người tiêu dùng, Chi tiêu Cá nhân và Doanh số Bán lẻ

Người tiêu dùng Mỹ vẫn tiếp tục chi tiêu bất chấp mức độ tin cậy của người tiêu dùng thường đi kèm với suy thoái.

Chỉ số Tâm lý Người tiêu dùng Michigan giảm từ 81,2 trong tháng 7 xuống 70,3 trong tháng 8 và vẫn chưa phục hồi. Nó đã đạt mức trung bình 70,6 kể từ tháng 8, với một số chỉ số lạc quan thấp nhất trong hơn một thập kỷ. Mức này tương đương năm 2010 và 2011, khi nền kinh tế vẫn còn gánh nặng với cuộc khủng hoảng tài chính.

Người tiêu dùng thúc đẩy nền kinh tế Hoa Kỳ. Thông thường 70% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được quy cho tiêu dùng nội địa.

Chi tiêu Cá nhân đã tăng 0,70% một tháng từ tháng 8 đến tháng 11. Vào năm 2019, năm cuối cùng trước đại dịch, chi tiêu trung bình là 0,36% hàng tháng.

Bán lẻ

Thị trường và Cục Dự trữ Liên bang

Thị trường đang chú ý nhiều hơn tới biến thể Omicron và quan điểm diều hâu của Fed. Trước Quốc hội, Chủ tịch Fed đã khẳng định lạm phát không còn là tạm thời và họ sẽ bàn thảo về việc tăng tốc độ thu hẹp QE trong các cuộc họp sắp tới.

Phản ứng với tin tức này lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm của Hoa Kỳ đã mất 21,4 điểm cơ bản kể từ khi đóng cửa ở mức 1,646% vào ngày 23/11. Cổ phiếu đã sụt giảm trên khắp thế giới khi sự phục hồi kinh tế một lần nữa bị đe dọa bởi đại dịch.

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm

Mối lo ngại rủi ro đã quay trở lại với tiền tệ, với việc đồng yên Nhật chia sẻ vai trò an toàn với đô la Mỹ, mặc dù đồng bạc xanh đã phần nào bị suy giảm do lợi suất trái phiếu kho bạc giảm mạnh.

Phần kết luận

Báo cáo bảng lương tháng 11 khả năng cao là tốt hơn dự báo. Các dấu hiệu từ thị trường lao động và nền kinh tế tiêu dùng cho thấy sự phục hồi của Mỹ. Tăng trưởng ở Mỹ – hiện đang ở mức 8,6% trong quý IV theo Atlanta Fed – có thể bị trật bánh nếu các bang áp dụng lại các quy định chống dịch. Tại thời điểm này, điều đó có vẻ xa vời nhưng không có gì chắc chắn.

Phản ứng của thị trường đối với báo cáo NFP phụ thuộc phần lớn vào trạng thái hoảng sợ đối với biến thể Omicron. Nếu bảng lương tốt hơn dự kiến, lợi suất trái phiếu Kho bạc và đồng đô la sẽ tăng lên.

Ngay cả khi tạo việc làm yếu hơn dự kiến nhưng vẫn khả quan, lợi tức đồng đô la và trái phiếu kho bạc sẽ được hưởng lợi vì Fed đã chỉ ra rằng thị trường lao động đã phục hồi đủ để cho phép lãi suất cao hơn. Điều này sẽ khiến giá vàng giảm.

Xu hướng giảm gần đây của lợi suất và thị trường chứng khoán là hơi quá đà. Chúng ta cùng chờ đợi phản ứng của thị trường.

Giavang.net

Tin Mới

Các Tin Khác

Giá đô la chợ đen

Mua vào Bán ra
USD tự do 23,930 10 23,980 0

Tỷ giá

Ngoại Tệ Mua vào Bán Ra

  USD

23,230-5 23,540-5

  AUD

15,768-225 16,440-234

  CAD

17,637-119 18,389-124

  JPY

168-1 178-1

  EUR

23,143-44 24,439-46

  CHF

23,926-101 24,947-105

  GBP

27,391-207 28,559-215

  CNY

3,373-4 3,517-4